Thứ 6 Ngày 26/05/2017

Bảo hiểm y tế - những vấn đề cần quan tâm

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, là cơ chế tài chính vững chắc giúp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chính sách BHYT của Việt Nam được thực hiện từ năm 1992. Năm 2008, Luật Bảo hiểm y tế được Quốc hội khóa XII thông qua, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong hệ thống pháp luật về BHYT và là cơ sở pháp lý cao nhất về BHYT.

      Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, là cơ chế tài chính vững chắc giúp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chính sách BHYT của Việt Nam được thực hiện từ năm 1992. Năm 2008, Luật Bảo hiểm y tế được Quốc hội khóa XII thông qua, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong hệ thống pháp luật về BHYT và là cơ sở pháp lý cao nhất về BHYT. Sau gần 5 năm thực hiện, cả nước đã có gần 67% dân số tham gia BHYT. Điều này đã khẳng định chủ trương, quan điểm đúng đắn, nhất quán của Đảng, Nhà nước về chính sách BHYT và tính ưu việt của BHYT.

      Năm 2014, nhằm tiến tới BHYT toàn dân và thực hiện mục tiêu xây dựng nền y tế công bằng, hiệu quả và phát triển, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển kinh tế và bảo đảm chính sách an sinh xã hội phù hợp xu thế chung của thế giới, Quốc hội đã ban hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Luật này có nhiều nội dung đổi mới thể hiện rõ tính ưu việt của BHYT, đó là mở rộng đối tượng tham gia BHYT, mở rộng phạm vi quyền lợi BHYT và mức hưởng BHYT; mở thông tuyến khám, chữa bệnh có BHYT; quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế; quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan…Cụ thể như:

      Về mở rộng đối tượng tham gia BHYT: Luật quy định bắt buộc tham gia BHYT đối với mọi đối tượng, thể hiện quyết tâm chính trị nhằm thúc đẩy thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân và đề cao tính pháp lý nhằm gắn trách nhiệm của mọi người dân tham gia BHYT, bảo đảm nguyên tắc chia sẻ của người tham gia BHYT.

      Về mở rộng phạm vi quyền lợi và mức hưởng BHYT, theo đó:

      - Bỏ quy định cùng chi trả 5% đối với người nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo.

      - Bỏ quy định cùng chi trả 20% đối với thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ; giảm mức cùng chi trả từ 20% xuống còn 5% với thân nhân khác của người có công và người thuộc hộ gia đình cận nghèo.

      - Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở.

      - Quy định cụ thể mức hưởng BHYT đối với các trường hợp khám, chữa bệnh không đúng tuyến và bổ sung quy định Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán trong các trường hợp tự tử, tự gây thương tích, tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

      - Bổ sung quy định cơ quan BHXH chịu trách nhiệm đóng BHYT cho người đang nghỉ thai sản; bổ sung quy định trẻ em dưới 6 tuổi được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả điều trị lác, cận thị, tật khúc xạ của mắt; trong trường hợp trẻ đủ 72 tháng chưa đến kỳ nhập học thì thẻ BHYT có giá trị đến ngày 31-9 của năm đó.

      Những quy định này nhằm giảm các gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia BHXH và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đối với một số đối tượng chính sách và các nhóm đối tượng yếu thế.

      Về mở thông tuyến khám, chữa bệnh có BHYT để tăng việc tiếp cận của người tham gia BHYT với dịch vụ y tế chất lượng: Từ 01/01/2016 thông tuyến khám chữa bệnh BHYT tuyến huyện; từ 01/01/2021, thông tuyến khám chữa bệnh BHYT tuyến tỉnh.

      Về quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng Quỹ Bảo hiểm xã hội: Luật cho phép đến hết ngày 31-12-2020 các địa phương có phần kinh phí chưa sử dụng hết được sử dụng 20% để hỗ trợ hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT; từ ngày 1-1-2021, phần kinh phí chưa sử dụng hết được hạch toán toàn bộ vào quỹ dự phòng để điều tiết chung.

      Việc Quỹ Bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất ở cấp quốc gia nhằm tập trung nguồn lực, điều tiết chung trong phạm vi cả nước và bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu chia sẻ rủi ro giữa các đối tượng.

      Về quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan, theo đó:

      - Quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Y tế trong việc quy định thống nhất giá dịch vụ, quy định gói dịch vụ y tế cơ bản. Bổ sung trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc triển khai thực hiện BHYT và giao trách nhiệm Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc kiểm tra, rà soát để tránh cấp trùng thẻ BHYT cho các đối tượng.

      - Bổ sung quy định trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp xã trong việc lập danh sách để cấp thẻ BHYT cho các đối tượng, lập danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT cho trẻ đồng thời với việc cấp giấy khai sinh.

      Như vậy, cùng với hoàn thiện chính sách, pháp luật về y tế, đầu tư nâng cao năng lực của ngành y tế, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế có những bước tiến quan trọng, tạo cơ chế tài chính bền vững trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, tạo sự công bằng trong việc thụ hưởng phúc lợi xã hội của mọi công dân, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và giảm nghèo bền vững.

      Từ ngày 01/6/2017, Thông tư số 02/2017/TT-BYT, ngày 15/3/2017 của Bộ Y tế có hiệu thực thi hành với 1.916 dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám, chữa bệnh của Nhà nước được điều chỉnh tăng giá. Mức điều chỉnh tăng chủ yếu ở khoảng 20- 30%, một số ít có mức tăng cao so với mức giá hiện hành. Đặc biệt, có 3 nhóm dịch vụ dành cho người chưa có thẻ BHYT được điều chỉnh khung giá tối đa, bao gồm: Giá dịch vụ khám bệnh, kiểm tra sức khoẻ; giá dịch vụ ngày giường điều trị; giá dịch vụ kỹ thuật và xét nghiệm dành cho các hạng bệnh viện. Trong 3 nhóm dịch vụ này, cả hai nhóm dịch vụ khám bệnh và dịch vụ ngày giường điều trị đều có mức tăng giá rất mạnh, cao gấp 2 - 4 lần so với giá hiện tại. Mức tăng này là rất đáng kể khi người bệnh phải điều trị nội trú, điều trị dài ngày. Cụ thể như: Giá tối đa dịch vụ ngày điều trị hồi sức tích cực tại bệnh viện hạng đặc biệt là 677.100 đồng (tăng gấp 2 lần); bệnh viện hạng 1 là 632.200 đồng; bệnh viện hạng 2 là 568.900 đồng. Đối với ngày giường bệnh hồi sức cấp cứu, chống độc, các mức tương ứng là: 362.800 đồng/ngày, 335.900 đồng/ngày, 279.100 đồng/ngày; tại bệnh viện hạng 3 là 245.700 đồng/ngày và bệnh viện hạng 4 là 226.000 đồng/ngày...

      Tuy nhiên, tác động mạnh nhất đến người bệnh chưa có thẻ BHYT phải là nhóm giá dịch vụ kỹ thuật và xét nghiệm dành cho các hạng bệnh viện. Ví dụ như chụp X quang động mạch vành hoặc thông tim, chụp buồng tim dưới DSA tăng từ 5,1 triệu đồng lên gần 5,8 triệu đồng; chụp và can thiệp tim mạch dưới DSA từ 6 triệu lên gần 6,7 triệu đồng; nội soi ổ bụng từ 575.000 đồng tăng lên 793.000 đồng; nội soi thực quản-dạ dày-tá tràng có sinh thiết tăng từ 220.000 đồng lên 385.000 đồng...

      Cũng theo Thông tư này, những bệnh nhân mắc các bệnh hiểm nghèo như điều trị ung thư hay thực hiện các kỹ thuật cao trong điều trị mà không có bảo hiểm y tế thì chi phí rất lớn. Ví dụ: bệnh nhân điều trị ung thư, chi phí xạ phẫu bằng Cyber Knife là hơn 20 triệu đồng; xạ phẫu bằng Gamma Knife: hơn 28 triệu đồng; Xạ trị bằng X Knife: hơn 28 triệu đồng; phẫu thuật nội soi robot điều trị các bệnh lý về gan mật: hơn 84 triệu đồng; phẫu thuật nội soi robot điều trị các bệnh lý lồng ngực: hơn 90 triệu đồng; phẫu thuật nội soi robot điều trị các bệnh lý tiết niệu: gần 80 triệu đồng; phẫu thuật nội soi robot điều trị các bệnh lý tiêu hóa, ổ bụng: hơn 96 triệu đồng.

      Việc tăng giá theo Thông tư 02/2017/TT-BYT của Bộ Y tế sẽ có tác động đến ý thức tham gia BHYT của người dân, càng rõ hơn tầm quan trọng và ý nghĩa của việc tham gia BHYT. Bởi lẽ khi đi khám, chữa bệnh, người có thẻ BHYT được quỹ BHYT chi trả từ 80% đến 100% chi phí còn người không có thẻ BHYT phải tự chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh. Vì vậy, những người chưa tham gia BHYT sẽ phải cân nhắc hơn việc tham gia BHYT cho bản thân và gia đình.

      Thời gian qua, nhằm thực hiện tốt hơn chính sách BHYT trên địa bàn tỉnh, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp hiệu quả nhằm tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHYT. Nổi bật là chính sách hỗ trợ kinh phí tham gia BHYT cho một số nhóm đối tượng có thu nhập thấp và không ổn định (Nghị quyết số 45/2016/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh ngày 08/12/2016 về việc hỗ trợ kinh phí đóng BHYT giai đoạn 2017 – 2020; Quyết định số 52/2016/QĐ-UBND của UBND tỉnh ngày 21/12/2016 về việc hỗ trợ kinh phí đóng BHYT giai đoạn 2017 – 2020). Cụ thể:

      - Người thuộc hộ gia đình cận nghèo theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 105/NĐ-CP ngày 15/11/2014 của Chính phủ: được hỗ trợ 10% mức đóng BHYT năm 2017 và 2018, từ năm 2019 trở đi mức hỗ trợ là 30% mức đóng BHYT (ngoài 70% phần ngân sách Trung ương đã hỗ trợ).

      - Người thuộc hộ gia đình làm nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 105/NĐ-CP ngày 15/11/2014 của Chính phủ: được hỗ trợ 20% mức đóng BHYT (ngoài 30% phần ngân sách Trung ương đã hỗ trợ).

      - Người tham gia BHYT theo hộ gia đình: được hỗ trợ 20% trên tổng số mức đóng BHYT theo quy định (bên cạnh quy định giảm trừ mức đóng từ người thứ 2 tham gia trở đi, cụ thể: người thứ nhất đóng 4.5% mức lương cơ sở, người thứ hai đóng 70% mức đóng của người thứ nhất, người thứ 3 đóng 60% mức đóng của người thứ nhất, người thứ 4 đóng 50% mức đóng của người thứ nhất, từ người thứ 5 trở đi đóng 40% mức đóng của người thứ nhất).

      - Người cao tuổi từ 70 đến 79 tuổi; người có từ 30 năm đến dưới 40 năm tuổi Đảng; Chi hội trưởng Hội Phụ nữ, Chi hội trưởng Hội Nông dân, Bí thư Chi đoàn thanh niên thôn, tổ dân phố, xóm, khu dân cư; người nhiễm HIV/AIDS: hỗ trợ 100% mức đóng BHYT..

      Nhờ thực hiện các chính sách đó mà tỷ lệ bao phủ BHYT của tỉnh đã tăng nhanh. Tính đến hết tháng 4/2017, toàn tỉnh đã có 78,3% dân số tham gia BHYT. Đại đa số người lao động, người sử dụng lao động và người dân nói chung đã có sự nhận thức đầy đủ về sự cần thiết của BHYT. Đông đảo người lao động, người nghỉ hưu, mất sức, đối tượng chính sách xã hội và một bộ phận người nghèo đã yên tâm hơn khi ốm đau có chỗ dựa khá tin cậy là BHYT. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận người lao động, nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, tính nhân văn, nhân đạo của chính sách BHYT trong hệ thống an sinh xã hội nên chưa tham gia. Đây cũng là một vấn đề đang đặt ra đối với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, làm sao có những giải pháp tích cực để đưa tỷ lệ bao phủ BHYT đạt mức trên 90% vào năm 2020.

Phòng Khoa giáo - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy.

Các tin khác